Danh Sách Tổng Hợp

Top 5 Bài văn phân tích ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao

Bài văn phân tích ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo số 1

Thoát khỏi dòng văn học lãng mãn tô hồng cuộc sống, Nam Cao bước chân đến với những người nông dân nghèo, có số phận đáng thương. Và ông đã vô cùng thành công khi bước vào trái tim người đọc với truyện ngắn “Chí Phèo” – hình ảnh một người nông dân từ chất phác, hiền lành đến tha hoá cả về nhân hình lẫn nhân tính. Khác với dòng ngôn ngữ bác học, văn phong chau chuốt, mượt mà, Nam Cao gây ấn tượng cho độc giả bằng hằng loạt tiếng chửi xuyên suốt tác phẩm. Tiếng chửi ấy để lại cho ta một nỗi thấm thía về một kiếp người nhưng lại bị cự tuyệt quyền làm người.

“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời, có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: Đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này! A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo? Mà có trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết.”

Ngay mở đầu truyện ngắn, Chí Phèo gây ấn tượng cho ta bằng hình ảnh một kẻ ngật ngưỡng say, “vừa đi vừa chửi”. Bình thường, người ta chỉ “chửi” khi đang tức giận một điều gì hay một người nào đó. Tiếng chửi gây mất hoà khí với mọi người xung quanh, nhưng đôi khi nó giúp chúng ta bớt căng thẳng vì “bõ tức”. Nhưng, Chí có xích mích điều gì hay với ai mà lại phải chửi? Lia cận cảnh vào những đối tượng mà Chí đang xích mích, đó là “trời”, “đời”, “làng Vũ Đại’, “ai không chửi nhau với hắn”, “người đẻ ra hắn”. Tiếng chửi của một kẻ tưởng chừng như say rượu ấy lại có lớp , bài bản, từ cao xuống thấp, từ xa đến gần, từ không xác định đến xác định. Tuy nhiên, cái đối tượng tưởng chừng như xác định: “người đẻ ra hắn” thì “hắn không biết”, “cả làng Vũ Đại cũng không ai biết”. Thành ra, tiếng chửi ấy vu vơ, cất lên cao rồi lại lọt thỏm giữa không trung.

Thật vậy, hẳn chửi “trời” nhưng “trời có của riêng nhà nào”. Đối tượng mở đầu của tiếng chửi là “trời”. Bầu trời trong xanh, cao vời vợi yên bình, nhưng trong mắt hắn cũng thật đáng chửi. Vì bầu trời ôm trọn tất cả loài người vào lòng, không chừa một ai cả. Bầu trời ấy đã đón nhận hắn – một người nông dân lương thiện lại còn đón nhận thêm bá Kiến – người huỷ hoại cả cuộc đời hắn. Và phải chăng, bi kịch bị bà Ba gọi vào bóp chân khiến bá Kiến ghen tuông cũng là câu chuyện do “trời” sinh ra. Yếu tố tưởng chừng như duy tâm ấy lại phản ánh cả xã hội đương thời thối nát, không có chỗ cho người lương thiện dung thân. “Trời” như một câu cửa miệng, một thông lệ để kêu ca cho tất cả những số phận bi kịch.

Và rồi hắn chửi “đời”: “đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai”. Đời là cuộc sống, số phận của một con người từ lúc mới sinh đến khi ra đi. Chửi đời tức là chửi “tất cả”, chửi không xót một thứ gì. Cứ ngỡ tưởng, hắn chửi đời người khác nhưng thực ra, hắn cũng đang chửi đời hắn. Hắn chửi từng câu chuyện, từng bước đi trong cuộc đời mình. Dường như, mọi thứ đổ ập trước mắt hắn đều đáng để cay cú, nhạo báng, chế giễu. Cũng phải thôi khi người ta sinh ra trong “chăn ấm nệm êm” thì hắn lại sinh ra bên “cái lò gạch bỏ không”. Phải chăng, đó cũng là một dấu hiệu báo trước cho cuộc sống với hàng tấn bi kịch về sau. Đời đã bất công với hắn, đã đối xử tệ với hắn, nên hắn phải “chửi”. Giá mà cuộc đời hắn được suôn sẻ, giá mà đời ưu ái hắn hơn thì biết đâu, tiếng chửi ấy đã thay bằng tiếng “cảm ơn”.

Cha mẹ cho hắn hình hài của người nhưng cả làng Vũ Đại đã tước đi quyền làm người, biến hắn trở thành con quỷ dữ khiến người ta trở nên ghê sợ. Còn nhớ, từ lúc hắn sinh ra đến năm 20 tuổi, hắn lớn lên trong vòng tay bao bọc của người làng. Tuy nhiên, họ lại “chuyền tay” nhau – một người chỉ nuôi hắn trong một thời gian nhất định. Làng Vũ Đại chỉ nuôi cho “sống” , chứ không ai dạy Chí cách “sống”. Chí hoàn toàn không được hưởng tình yêu thương hay sự chỉ bảo của bất kỳ một ai cả. Cuộc đời hắn là bức tranh với những mảnh ghép không hoàn hảo. Sự nuôi dưỡng mà làng Vũ Đại cho hắn là quá ít để hắn phải nhớ ơn suốt đời. Trái lại, cả làng ai cũng coi hắn là một sinh vật cần phải tránh xa, cần phải cự tuyệt. Ơn một, oán đến mười, đó là lý do vì sao hắn phải chửi. Chửi cả làng, tức là không chừa một người nào. Vậy mà ai cũng nghĩ: “chắc nó trừ mình ra”. Cả làng Vũ Đại đều đáng chửi vì không cho hắn được sống như một con người. Hắn đã chai sạn cảm xúc đến độ thứ bật ra không phải là tiếng khóc mà lại là tiếng chửi.

Ta thấy, chỉ cần một bát cháo hành, một người con gái xấu đến “ma chê quỷ hờn” mà hắn đã “thèm làm hoà với mọi người biết bao”. Có lẽ, con nhím ấy sẽ không còn xù lông nếu mọi người biết vuốt ve, xoa dịu những tổn thương trong trái tim nó. Và rồi, hắn “chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn”. Cả làng Vũ Đại có ai dại gì mà động vào hắn? Bởi vậy, ai cũng đều đang không “chửi nhau với hắn”. Nực cười, lại có người chửi người không chửi nhau với mình sao? Như một đứa trẻ con làm nũng mẹ, chửi là một cách để Chí thu hút sự chú ý, sự quan tâm của người khác. Trong thâm tâm, Chí chỉ mong muốn có người đáp lại lời hắn dù bằng hình thức giao tiếp thấp nhất là tiếng chửi. Người dân Việt Nam từ lâu đã gắn liền với đạo lý:

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Tuy nhiên, Chí không những không “thờ mẹ kính cha” mà lại “chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn”. Ở một khía cạnh nào đó, người ta nhìn vào hắn như một đứa con bất hiếu. Xong, trở lại với bậc cha mẹ, họ chỉ biết đẻ hắn ra rồi để hắn tự sinh tự diệt. Vậy, công cha có còn như “núi Thái Sơn”, nghĩa mẹ có còn như “nước trong nguồn chảy ra”? Hắn không được hưởng chút nào từ tình yêu thương cha mẹ ngoài việc “đẻ hắn ra”. Mà đẻ hắn ra rồi, hắn nào có sung sướng, hạnh phúc gì? Thà từ đầu đừng có hắn còn hơn. Hắn không hề biết ơn việc mình có mặt trên đời này khiến cho hắn cũng chẳng thiết tha gì việc trả nghĩa cha mẹ. Tiếng chửi đó không phải cảu một người con bất hiếu mà là của một ngừơi con bất hạnh. Thành ra, tiếng chửi đó có phần đáng thương hơn là đáng trách.

Chí chửi nhiều như vậy mà “không ai lên tiếng, không ai ra điều”. Tiếng chửi của Chí không đơn thuần là muốn nhiếc móc hay hờn trách ai mà chỉ muốn được giao tiếp với loài người. Người ta thường nói “yêu nhau lắm cắn nhau đau” hay “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Chửi những cái “đau”, những cái “roi vọt” không đơn thuần là ghét mà nó là một cách để tìm kiếm tình thương. Vậy mà không có một ai cho hắn cơ hội cả. Chỉ có một mình hắn cô độc đến đáng thương, tự chửi rồi tự mình nghe.

Và đó là vì sao hắn cảm thầy “tức”, “tức chết đi được mất”, “có khổ hắn không”, “có phí rượu không”. Nếu không uống rượu, chắc hắn cũng không cam đảm để làm như vậy. Thế mà uống rượu rồi, can đảm rồi, nhưng kết quả thu về lại hoàn toàn chẳng có gì. Chỉ có mình hắn với “ba con chó giữ”. Đẳng cấp của một con người đã bị hạ xuống tận hàng con vật. Đây chính là sự coi thường, sự nhục nhã lớn nhất mà mọi người dành cho Chí. Dù trong cơn say, hắn vẫn nhận ra điều này và nó làm cho hắn “tức chết đi được”. Bao nhiêu công sức mà hắn “tìm kiếm sự chú ý” đều đổ xuống sông xuống bể khiến hắn khổ tâm, đau đớn lắm.

Những cụm từ cảm thán như: “tức thật”, “tức chết đi được mất”, “mẹ kiếp”,… cũng những cụm từ mang ý nghĩa phủ định như: “chắc nó trừ mình ra”, “không ai ra điều”, “không biết” đã diễn tả thành công giọng điệu phẫn uất, căm hờn của một cái tôi cô đơn, bị ruồng bỏ. Những cụm từ cảm thán ấy đã bộc lộ được cảm xúc của Chí một cách chân thực và rõ nét. Và khác với lối văn phong hoa mỹ, chau chuốt, Nam Cao sử dụng lối nói gần gũi, thân thiết với người đọc. Cũng phải thôi vì đối với một người như Chí, phải sử dụng cái tiếng chửi thô, sơ, nguyên bản mới thể hiện được hết con người. Cũng như ông Hai trong Làng của Kim Lân, Chí là một người nông dân với lối ngôn ngữ thuần Việt. Nhưng qua lối chửi của Chí, mùi lưu manh như hiện rõ trong từng câu từng chữ.

Nước mắt dường như đã gắn liền với truyện ngắn của Nam Cao. Ông tỏ ra sùng bái, tin tưởng vào giọt nước mắt – sự thiện lương của con người đến độ gần như không có một câu chuyện nào không có chi tiết giọt nước mắt. Giọt nước mắt chính là bi kịch cuộc đời của một nhân vật. Và phải chăng, tiếng chửi của Chí cũng là một hình thức khác của tiếng khóc. Hình thức này độc đáo hơn, tiêu cực hơn nhưng lại đậm phần chân thực, đau đớn hơn.

Đầu những thế kỷ XX, người ta đã coi chị Dậu là hình mẫu tiêu biểu cho những số phận khổ cực của người nông dân: bị ép buộc, phải bán con, bán chó,… Xong, Chí Phèo xuất hiện như một cơn sóng mới xô đi hình ảnh đó, chiếm lấy ngôi vị “người nông dân với số phận bi thảm nhất” : bị tha hoá cả về nhân hình lẫn nhân tính, bị cự tuyệt quyền làm người. Có thể nói, Nam cao đã phản ánh thật xuất sắc xã hội đương thời thối nát, buộc con người muốn sống được thì phải tha hoá.

Bài văn phân tích ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo số 5

Nam Cao là một trong số những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại với những sáng tác xuất sắc về đề tài người trí thức và người nông dân nghèo. Trong những sáng tác của mình, Nam Cao luôn sáng tạo ra nhiều chi tiết độc đáo và chi tiết tiếng chửi của Chí Phèo trong đoạn mở đầu của truyện ngắn cùng tên là một trong số những chi tiết nghệ thuật như thế.

Tiếng chửi của Chí Phèo xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về hình ảnh một kẻ say rượu, đang “vừa đi vừa chửi”. Lẽ thường chúng ta vẫn thường thấy, người ta vẫn thường chửi khi có ai đó làm mình tức giận, thế nhưng ở đây thì lại hoàn toàn khác, cả làng Vũ Đại có ai làm gì Chí đâu mà hắn giận, hắn bực mình rồi chửi. Đó là tiếng chửi của một kẻ đang say, không còn tỉnh táo nhưng nếu nghe tiếng chửi ấy của Chí Phèo người đọc sẽ thấy nó chẳng “say” chút nào mà ngược lại còn đầy tỉnh táo. Tiếng chửi ấy có sự tăng cấp dần về đối tượng của tiếng chửi, Chí Phèo đã chửi tất cả mọi thứ, từ cái lớn, cái chung, cái không đích danh đến cái cụ thể, cái đích danh. 

Thoạt đầu, Chí cất tiếng chửi trời thế nhưng “trời có của riêng nhà nào”. Đối tượng đầu tiên Chí Phèo chửi chính là “trời’. Bầu trời kia những tưởng là vô tội nhưng nào đâu phải thế, bởi lẽ bầu trời rộng lớn ấy đã chứa, đã ôm ấp trong mình cả những người lương thiện lẫn những người tàn ác, đã ôm ấp Chí – một người nông dân hiền lành và lương thiện lại còn chứa cả Bá Kiến – một người gian xảo và độc ác. Có lẽ, cũng chính vì thế mà cuộc đời của Chí ngày càng trở nên tối tăm, Chí mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác và đến cuối cùng hắn trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. “Trời” dường như đã trở thành một câu cửa miệng, để con người mỗi khi bất lực, có bi kịch hay gặp phải bất cứ vấn đề gì đều cất tiếng kêu ca.

Sau “trời”, Chí cất tiếng chửi “đời” nhưng khổ nỗi “đời là tất cả nhưng có của riêng ai”. Mỗi con người ai cũng có cuộc đời, có số phận của chính mình. Chí chửi “đời’ của người khác hay hắn đang chửi chính “đời” của mình – một cuộc đời với bao khổ đau, bao cám dỗ và bao sai lầm.  Rồi hắn chửi “cả làng Vũ Đại” nhưng “cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: Chắc nó trừ mình ra”. Làng Vũ Đại chính là nơi mà những người dân đã “chuyền tay” nhau nuôi Chí, cho hắn từng bữa cơm, cho hắn hình hài của một con người. Thế nhưng, làng Vũ Đại lại quên mất không dạy hắn cách làm người một cách đúng nghĩa, để rồi hắn cứ chạy dài trên con đường với đầy rẫy những sai lầm và cũng chính những con người nơi đây đã cướp đi quyền làm người của Chí, họ xem Chí là “con quỷ dữ” mà ai cũng phải khiếp sợ, phải tránh xa, phải cự tuyệt, để rồi, khi Chí chửi hết thảy cả làng Vũ Đại ai cũng bỏ ngoài tai, xem như không liên quan đến mình.

Và rồi, Chí lại cất tiếng chửi, “chửi đứa chết mịa nào không chửi nhau với hắn”. Nhưng một lần nữa, thứ Chí nhận lại được chỉ là sự im lặng, sự thờ ơ đến rợn người. Chí chửi người có lẽ chỉ là cách để hắn thu hút sự chú ý, để được “làm hòa”, được giao tiếp, trò chuyện cùng mọi người. Đối tượng cuối cùng trong tiếng chửi của Chí chính là “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo”. Có lẽ nếu có cha, có mẹ, nếu không bị bỏ rơi nơi cái lò gạch cũ thì Chí đã là một con người khác, không phải là một Chí Phèo khiến người ta khiếp sợ như hiện tại. Tiếng chửi ấy của Chí không phải là tiếng chửi của một người con bất hiếu mà nó là lời của một con người với số phận bất hạnh, ngay từ lúc sinh ra đã không nhận được tình yêu thương, sự quan tâm, che chở của gia đình. Và có lẽ, nó đáng thương nhiều hơn là đáng trách.

Như vậy, có thể thấy, mỗi đối tượng xuất hiện trong tiếng chửi của Chí Phèo đều có những lí do riêng. Điều đáng chú ý chính là ở chỗ, dẫu Chí chửi rất nhiều, nhưng đáp lại chính là sự im lặng, “không ai ra điều”, không ai đáp lại. Tiếng chửi ấy của Chí Phèo xét đến cùng không phải là sự mắng nhiếc hay tức giận của Chí mà chính là phương tiện để Chí giao tiếp với mọi người, Chí muốn người khác chửi lại mình có nghĩa là Chí muốn được người khác lắng nghe, được người khác trò chuyện cùng. Đồng thời, tiếng chửi còn là sự thể hiện nỗi đau đớn, dằn vặt của Chí Phèo. Nỗi đau đớn ấy của Chí được thể hiện rõ nét qua việc trong tiếng chửi của Chí sử dụng hàng loạt các từ ngữ thể hiện cảm xúc như “Tức mình”, “Tức thật”, “Tức chết đi được mất”. Nam Cao đã sử dụng những từ ngữ gần gũi, bình dị, mang tính khẩu ngữ để thể hiện rõ nét, chân thực cảm xúc của Chí Phèo.

Đặc biệt, tiếng chửi của Chí Phèo còn cho người đọc thấy được bi kịch mà Chí Phèo đang phải gánh chịu. Chí Phèo đang phải sống trong sự cô đơn, cô độc, bị cả xã hội gạt ra khỏi thế giới của loài người. Chí đang phải chịu đựng bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người bởi lẽ dẫu Chí có chửi thật nhiều, chửi bao nhiêu thứ, bao nhiêu người đi chăng nữa thì cũng không một ai lên tiếng, không một ai nói lại với Chí. Điều đó cho thấy Chí Phèo không được mọi người trong xã hội xem là con người, để có thể lắng nghe, có thể giao tiếp cùng nhau. Dường như tất cả mọi thứ, từ trời, đời, đến người dân làng Vũ Đại đang đứng về một phía còn riêng Chí đang đứng về một phía bên lề của xã hội loài người mà cất lên tiếng chửi. Đó có lẽ là nỗi đau, là thất bại lớn nhất của Chí Phèo.

Tóm lại, với ngôn ngữ trần thuật nửa gián tiếp và sự đa giọng điệu, tiếng chửi trong đoạn mở đầu của truyện ngắn “Chí Phèo” không những làm cho tác phẩm thêm phần thú vị, hấp dẫn mà hơn hết, nó gợi lên trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về số phận, cuộc đời của nhân vật Chí Phèo. Đồng thời, qua đó cũng cho chúng ta thấy được bút pháp hiện thực lạnh lùng, sắc sảo của nhà văn Nam Cao.

Bài văn phân tích ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo số 7

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Chí Phèo là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông. Nhân vật Chí Phèo gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc không những ở cuộc đời và số phận tàn khốc mà còn ở tiếng chửi, cách chửi rất đặc biệt, có sức ám ảnh.

Tác giả đưa tiếng chửi lên đầu truyện với mục đích để lại sự độc đáo và ấn tượng cho người đọc. Tác giả đã không sử dụng cách kể chuyện theo khuôn khổ truyền thống mà theo kết cấu hồi tưởng, những tình tiết mở đầu cực kỳ bất ngờ và khiến người đọc thực sự lôi cuốn. Nghệ thuật trần thuật đi qua nhiều ngôi khác nhau. Nhà văn kể chuyện theo giọng chửi bực tức của Chí Phèo, theo giọng dân làng thờ ơ, hờ hững và theo giọng trần thuật của tác giả.

Tiếng chửi liên tục được tăng cấp, càng về sau càng gay gắt. Ban đầu là chửi đơn thuần chửi chung như chửi “trời”, “đời”, “tất cả làng Vũ Đại”, “chửi đứa nào không chửi nhau với hắn”, “chửi đứa đẻ ra hắn”. Tiếng chửi được tăng cấp cả về cảm xúc của nhân vật mỗi lúc một tăng dần như: “Tức mình”, “Tức thật!”, “Thế này thì tức thật!”, “Tức chết đi được mất”. Tiếng chửi của Chí Phèo thể hiện cảm xúc của nhân vật mỗi lúc một tăng theo và bi kịch của Chí Phèo ngày càng bi thảm.

Qua tiếng chửi, Nam Cao đặt ra một nghịch lý trước người đọc: Chí Phèo say hay tỉnh? Rõ ràng ông đã khẳng định “cứ rượu say là hắn chửi”. Nhưng nếu đó là tiếng chửi của một người say và mất hết ý thức, tại sao lại lớp lang rành mạch (sự tăng cấp giữa các đối tượng), tại sao vẫn nhận ra “thân hắn khổ đến nông nỗi này”. Say mà tỉnh, tỉnh mà say, đó là trạng thái lưỡng phân của hình tượng Chí Phèo, qua đó Nam Cao hé lộ cho người đọc thấy được ý thức tỉnh táo của Chí Phèo sau cái vô thức của kẻ say, nỗi đau con người sau hình thù quỷ dữ, khát vọng lương thiện sau những hành động, lời nói côn đồ, ác độc.

Ngay ở đoạn văn tiếng chửi mở đầu tác phẩm, tác giả đã trình bày ba bi kịch chính của Chí Phèo, và đó cũng là nền tảng triển khai những bi kịch này xuyên suốt tác phẩm. Tiếng chửi mở ra trước mắt người đọc bi kịch số phận cuộc đời Chí Phèo. Cả cuộc đời Chí Phèo chỉ là con số không, không cha không mẹ không gia đình, không tài sản của cải. Chí Phèo chửi cha mẹ mình, thực ra chính là chửi chính mình, chửi chính số kiếp đau đớn của mình. “Nhưng biết đứa nào đẻ ra Chí Phèo”, câu hỏi ấy vang lên không lời đáp như chính sự bế tắc, bất lực của Chí, một kẻ bị chối bỏ ngay từ khi mới ra đời và phải sống cả kiếp người-thú đau đớn, chật vật.

Tiếng chửi là bước đường cùng, là đoạn cuối của bi kịch tha hóa của con người Chí Phèo. Cùng với việc đánh mất nhân hình, tiếng chửi và hành động rạch mặt ăn vạ, đập phá, đâm chém chính là những biểu hiện của quá trình “lưu manh hóa”, dần biến Chí Phèo thành “Con quỷ dữ của làng Vũ Đại”.

Tiếng chửi là tiếng kêu đau đớn của bi kịch bị tước đoạt quyền làm người. Tiếng chửi của Chí Phèo không có một lời đáp. Bởi vì, tất cả dân làng Vũ Đại đều không xem Chí Phèo là con người. Đây là hệ quả tất yếu từ những đau thương mà Chí Phèo gây ra cho họ. Tình cảnh “chỉ ba con chó dữ với một thằng say rượu” cho thấy sự cô đơn tận cùng của Chí Phèo, bị chối bỏ, bị đẩy ra ngoài xã hội người của làng Vũ Đại, bị tước đoạt quyền làm người. Tiếng chửi của Chí Phèo, do vậy, chính là một nỗ lực tuyệt vọng để giao tiếp, chính là tiếng kêu cứu của khao khát lương thiện trong vô thức của Chí Phèo, là “tiếng hát lộn ngược” vô vọng tìm sự sẻ chia, thấu hiểu.

Qua chi tiết tiếng chửi, ta thấy được bút pháp hiện thực của Nam Cao rất nghiêm nhặt. Bằng giọng văn lạnh lùng, sắc lạnh, Nam Cao vừa gợi ra được mối quan hệ giữa Chí Phèo (tính cách điển hình) với làng Vũ Đại (hoàn cảnh điển hình), vừa gợi ra được số phận, bi kịch của nhân vật trung tâm. Mặt khác, ẩn sâu trong giọng điệu tự sự lạnh lùng có phần khinh bạc ấy, là một trái tim yêu thương, thấu hiểu, xót xa thấm thía của một tấm lòng đau người, đau đời tha thiết.

Nam Cao tỏ ra già dặn trong việc sắp xếp kết cấu và miêu tả tiếng chửi và cách chửi của Chí Phèo. Kết cấu đi thẳng vào vấn đề chính. Trong tiếng chửi hội tụ các vấn đề quan trọng mà tác giả muốn triển khai. Cách dẫn dắt cuốn hút, hấp dẫn người đọc. Cách kể chuyện đa chủ thể. Bằng lời nửa trực tiếp, tiếng chửi vừa có điểm nhìn của Nam Cao, vừa có điểm nhìn của Chí Phèo, vừa có điểm nhìn của làng Vũ Đại. Đoạn văn là tổng hòa của các cuộc đối thoại: cuộc đối thoại dân chủ giữa nhà văn và bạn đọc; cuộc đối thoại giữa tác giả và nhân vật; cuộc đối thoại vô vọng giữa Chí Phèo và dân làng Vũ Đại…

Ngôn ngữ dẫn truyện sống động, đa giọng điệu, tạo cảm xúc nhiều tầng bậc, thể hiện tình cảm đáng cay, chua chát của nhà văn trước hiện thực của cuộc đời. Nghệ thuật trần thuật đạt đến trình độ bậc thầy, làm nên sức sống cho tác phẩm.

Chí Phèo là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ. Qua việc miêu tả tiếng chửi của nhân vật Chí phèo, tác phẩm khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945, một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính.

Bài văn phân tích ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo số 6

Truyện ngắn Chí phèo có thể coi là kiệt tác của nền văn học Việt Nam thế kỉ 20. Cái khiến người đọc nhớ đến nhân vật Chí Phèo nhiều nhất, có lẽ là tiếng chửi người, chửi đời của hắn. Tiếng chửi của Chí Phèo là một “đặc sản”, một âm thanh khác thường chưa từng thấy ở đâu. Tiếng chửi ấy được nhà văn lồng ghép trong nghẹ thuật trần thuật hết sức tài tình, khéo léo như một nhà điêu khắc, khắc tạc từng đường nét của pho tương sống Chí phèo.

Nghệ thuật trần thuật hiểu đơn giản là cách kể các tình tiết sao cho sống động, lôi cuốn, thể hiện rõ nhất tư tưởng, tình cảm mà nhà văn muốn gửi gắm. Về mặt kết cấu trần thuật, việc nhà văn đưa tiếng chửi của Chí Phèo lên đầu tác phẩm đã tạo ấn tượng mạnh và có sức lôi cuốn người đọc. Ở đây, Nam Cao đã từ bỏ cách kể chuyện tuyến tính truyền thống, mà chuyển sang kết cấu hồi tưởng, đồng hiện è Cách kể chuyện tạo tính bất ngờ, sắp xếp các chi tiết quan trọng trong tác phẩm, khiến người đọc tưởng như ngẫu nhiên mà thật ra có quy luật tất yếu.

Nghệ thuật trần thuật nửa trực tiếp được Nam Cao sử dụng rất thành công. Về hình thức, đoạn văn là lời kể của tác giả, nhưng trong đó ta có thể nghe được ba giọng: Thứ nhất, đó là giọng chửi tức tối của Chí Phèo (“Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật..”). Thứ hai, đó là chất giọng lạnh nhạt, thờ ơ của người làng Vũ Đại (“chắc nó trừ mình ra”). Thứ ba, đó là giọng trần thuật khi lạnh lùng khinh bạc, khi sôi nổi của Nam Cao. Đoạn văn như thấu tóm cái hồn của ngôn ngữ đời sống, trở nên sinh động, lôi cuốn. Mặt khác, đoạn tiếng chửi có tác dụng như một cuộc đối thoại giữa nhà văn và nhân vật, từ đó làm bật lên tư tưởng, chủ đề tác phẩm.

Tiếng chửi của Chí Phèo có tính chất tăng cấp. Đầu tiên là tăng cấp về đối tượng: “trời”, “đời”, “tất cả làng Vũ Đại”, “đứa nào không chửi nhau với hắn”, “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này” è Đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ xa đến gần, từ chửi người đến chửi mình. Tiếp đến là tăng cấp về cảm xúc: “Tức mình”, “Tức thật!”, “Thế này thì tức thật!”, “Tức chết đi được mất”. Như vậy, sau mỗi tiếng chửi, tình thế bi đát và bi kịch của cuộc đời Chí Phèo cũng tăng theo.

Qua tiếng chửi, Nam Cao đặt ra một nghịch lý trước người đọc: Chí Phèo say hay tỉnh? Rõ ràng ông đã khẳng định “cứ rượu say là hắn chửi”. Nhưng nếu đó là tiếng chửi của một người say và mất hết ý thức, tại sao lại lớp lang rành mạch (sự tăng cấp giữa các đối tượng), tại sao vẫn nhận ra “thân hắn khổ đến nông nỗi này” è Say mà tỉnh, tỉnh mà say, đó là trạng thái lưỡng phân của hình tượng Chí Phèo, qua đó Nam Cao hé lộ cho người đọc thấy được ý thức tỉnh táo của Chí Phèo sau cái vô thức của kẻ say, nỗi đau con người sau hình thù quỷ dữ, khát vọng lương thiện sau những hành động, lời nói côn đồ, ác độc.

Ngay ở đoạn văn tiếng chửi mở đầu tác phẩm, tác giả đã trình bày ba bi kịch chính của Chí Phèo, và đó cũng là nền tảng triển khai những bi kịch này xuyên suốt tác phẩm.Trước hết đó là bi kịch số phận của một người nông dân cùng khổ bị đẩy vào bước đường cùng. Cả cuộc đời Chí Phèo chỉ là con số không, không cha không mẹ không gia đình, không tài sản của cải. Chí Phèo chửi cha mẹ mình, thực ra chính là chửi chính mình, chửi chính số kiếp đau đớn của mình. “Nhưng biết đứa nào đẻ ra Chí Phèo”, câu hỏi ấy vang lên không lời đáp như chính sự bế tắc, bất lực của Chí, một kẻ bị chối bỏ ngay từ khi mới ra đời và phải sống cả kiếp người – thú đau đớn, chật vật.

Sau đó là bi kịch tha hóa, biến đổi cả nhân tính lẫn nhân hình. Cùng với việc đánh mất nhân hình, tiếng chửi và hành động rạch mặt ăn vạ, đập phá, đâm chém chính là những biểu hiện của quá trình “lưu manh hóa”, dần biến Chí Phèo thành “Con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Cuối cùng (và cũng là cao nhât), bi kịch bị tước đoạt quyền làm người. Tiếng chửi của Chí Phèo không có một lời đáp. Bởi vì, tất cả dân làng Vũ Đại đều không xem Chí Phèo là con người. Đây là hệ quả tất yếu từ những đau thương mà Chí Phèo gây ra cho họ è Tình cảnh “chỉ ba con chó dữ với một thằng say rượu” cho thấy sự cô đơn tận cùng của Chí Phèo, bị chối bỏ, bị đẩy ra ngoài xã hội người của làng Vũ Đại, bị tước đoạt quyền làm người è Tiếng chửi của Chí Phèo, do vậy, chính là một nỗ lực tuyệt vọng để giao tiếp, chính là tiếng kêu cứu của khao khát lương thiện trong vô thức của Chí Phèo, là “tiếng hát lộn ngược” vô vọng tìm sự sẻ chia, thấu hiểu.

Qua chi tiết tiếng chửi, ta thấy được bút pháp hiện thực của Nam Cao rất nghiêm nhặt. Bằng giọng văn lạnh lùng, sắc lạnh, Nam Cao vừa gợi ra được mối quan hệ giữa Chí Phèo (tính cách điển hình) với làng Vũ Đại (hoàn cảnh điển hình), vừa gợi ra được số phận, bi kịch của nhân vật trung tâm. Mặt khác, ẩn sâu trong giọng điệu tự sự lạnh lùng có phần khinh bạc ấy, là một trái tim yêu thương, thấu hiểu, xót xa thấm thía của một tấm lòng đau người, đau đời tha thiết.

Đoạn trích tiếng chửi của Chí Phèo thể tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao. Nhà văn sử dụng kết cấu đi thẳng vào vấn đề chính: trong tiếng chửi hội tụ các vấn đề quan trọng mà tác giả muốn triển khai è Cách dẫn dắt cuốn hút, hấp dẫn người đọc. Cách kể chuyện đa chủ thể. Bằng lời nửa trực tiếp, tiếng chửi vừa có điểm nhìn của Nam Cao, vừa có điểm nhìn của Chí Phèo, vừa có điểm nhìn của làng Vũ Đại è Đoạn văn là tổng hòa của các cuộc đối thoại: cuộc đối thoại dân chủ giữa nhà văn và bạn đọc; cuộc đối thoại giữa tác giả và nhân vật; cuộc đối thoại vô vọng giữa Chí Phèo và dân làng Vũ Đại… Ngôn ngữ sống động, đa giọng điệu. Nghệ thuật trần thuật cũng đạt đến trình độ bậc thầy, làm nên sức sống cho tác phẩm.

Bài văn phân tích ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo số 2

Trong nền văn học viết Việt Nam, có những tác giả đã khẳng định vị trí của mình bằng sáng tác đồ sộ mang giá trị nhân văn lớn như đại thi hào Nguyễn Du với “Truyện Kiều” hoặc bằng cách phản ánh những sự kiện trong đại của đất nước như tác gia Tố Hữu, Nguyễn Tuân. Số khác thì đánh dấu bằng tuyên ngôn nghệ thuật như Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam… Nhưng cũng có các tác giả đã để lại ấn tượng muôn đời trong lòng người đọc chỉ bằng một một chi tiết nhỏ trong toàn bộ tác phẩm… trong đó có Nam Cao. Và như Macxim Gorki đã khẳng định :”Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” là vậy.

Người ta cứ nghĩ để viết nên một tác phẩm vĩ đại thì phải đi tìm những thứ to tát từ nơi xa xôi, phải thoát ly hiện thực đau khổ để tìm đến điều mơ tưởng. Không phải vậy, nhà văn – người sáng tạo ra cái đẹp – có thể chỉ tìm được nghệ thuật cao quý từ những điều bình thường nhất, nhỏ bé nhất mà lại nói lên được điều vĩ đại. “Chi tiết nhỏ” là những sự việc, sự kiện bình thường trong một tác phẩm, dường như ban đầu đọc qua ta chỉ nghĩ nó có tác dụng phản ánh hiện thực khách quan mà khi đọc kĩ càng, ta lại phát hiện trong đó một giá trị tư tưởng lớn có ý nghĩa giáo dục và thẫm mĩ cao. “Chi tiết nhỏ” nhưng mang giá trị nghệ thuật đặc sắc góp phần khẳng định lập trường và tài năng của “nhà văn lớn”.

Chí Phèo là một điển hình nghệ thuật về người nông dân từ lương thiện rơi vào tha hóa trở thành quỷ dữ rồi bị gạt ra khỏi xã hội loài người, cuối cùng quay quắt trở về với bi kịch của khát vọng “làm người lương thiện”. Bi kịch bị ruồng bỏ, cô đơn trước đồng loại của Chí Phèo được Nam Cao thể hiện qua một chi tiết rất nhỏ, rất bình thường và tự nhiên ngay đoạn mở đầu nhưng càng đọc, càng suy ngẫm ta lại càng thấy từng tầng nghĩa sâu sắc cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật của tác phẩm. Đó chính là tiếng chửi của Chí Phèo.

Trong cơn say, hắn ngật ngưỡng bước đi và hắn chửi. Ban đầu hắn chửi trời vì trời sinh ra hắn một con người không hoàn thiện. Rồi hắn “chửi đời” vì đời bạc bẽo đã cưu mang hắn rồi lại vứt bỏ hắn. Tức quá, hắn “chửi cả làng Vũ Đại” đã đẩy hắn vào bi kịch tha hóa thê thảm. Nỗi cô độc đã lên đến tột độ, hắn”chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn”! Đau đớn nhất, Chí Phèo chửi “đứa chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn” làm hắn mang những bi kịch lớn của cuộc đời. Chí Phèo chửi nhưng lời của hắn lại rơi vào trong im lặng đáng sợ. Không một ai đáp lại lời của hắn. Hắn chửi nhưng chất chứa bên trong là niềm khao khát được giao tiếp, được đồng vọng dù chỉ được đáp lại bằng một tiếng chửi. Nhưng đau xót thay, cả làng Vũ Đại quay lưng với hắn để cuối cùng hắn chửi nhau với ba con chó dữ: “Một thằng say và ba con chó dữ mà làm ầm ĩ cả làng”. Chí Phèo thật sự đã bị gạt bỏ khỏi xã hội loài người.

Tài hoa nghệ thuật Nam Cao được bộc lộ ngay trong đoạn mở đầu truyện ngắn. Nhà văn đã sử dụng rất thành công hình thái ngôn ngữ nửa trực tiếp để tạo nên hiện tượng đa thanh cho giọng điệu kể chuyện. Đoạn văn có lời kể khách quan xen lẫn lời nhận xét của tác giả, có cả lời nhủ thầm của dân làng: “Chắc nó trừ mình ra”. Như vậy, tuy dân làng Vũ Đại không xuất hiện nhưng ta vẫn thấy hình ảnh đám đông và thái độ của họ trước lời chửi Chí Phèo. Nổi bật lên tất cả là giọng Chí Phèo vừa có phần phẫn uất lại vừa cô đơn trước đồng loại: “Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! … Mẹ kiếp! Thế có phí rượi không?” Đó là lời kể của tác giả hay chính suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật đang cất lên tiếng nói.

Nhờ tính chất đa thanh của giọng điệu kể chuyện đã dẫn đến một tính chất đặc sắc khác cho đoạn văn: tính đa nghĩa. Tiếng chửi không chỉ là khao khát được giao tiếp mà còn là sản phẩm của một con người bị rơi vào bi kịch bị tha hóa, không được sống đúng bản chất của một con người. Bên ngoài là tiếng chửi của một kẻ say nhưng bên trong thì hắn rất tỉnh. Lời chửi rất mơ hồ, không động chạm ai, quả là một kẻ say bình thường đang chửi. Nhưng hắn rất tỉnh, rất sáng suốt, không gian trong tiếng chửi thu dẹp dần từ cao đến thấp, từ rộng đến hẹp, từ vô địa chỉ đến có địa chỉ. Từ số đông, hắn chửi một người: “hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo”. Đẻ ra Chí Phèo “cả làng Vũ Đại cũng không ai biết” nhưng chúng ta, người đọc thì biết: Chính xã hội vô nhân đạo đã đẻ ra Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại, đã sinh ra hiện tượng “Chí Phèo”.

Như vậy, hắn mượn rượu để chửi, để phản ứng với toàn bộ xã hội vô nhân đạo. Từng lời cay độc ấy thoát ra nghĩa là lòng hắn đang gào thét cuồng điên, hắn chửi để thỏa mãn lòng rực lửa đốt khi mà cả làng Vũ Đại không ai lắng nghe hắn. Họ thành kiến với hắn. Tiếng chửi của Chí Phèo vừa mang tâm trạng bất mãn vừa là lời tố cáo sâu sắc xã hội vô nhân đạo với những nếp nghĩ lạc hậu đã cướp đi quyền làm người và ruồng bỏ hắn. Tiếng chửi thật chất là một tiếng kêu cứu thảm thiết của con người đáng thương bị què quạt cả về thể xác lẫn tinh thần cố níu chiếc phao đời để mà tồn tại. Ta đã từng đau xót cho số phận nghèo khổ, tăm tối của chị Dậu, chị Dậu nghèo tới mức phải bán con, bán chó, bán sữa nhưng Ngô Tất Tố không để chị bán nhân phẩm của mình. Còn Chí Phèo, hắn đã bán cả linh hồn cho quỷ dữ với cái giá rẻ bèo và cuối cùng bị ghẻ lạnh, cô đơn trong chính xã hội loài người.

Trong đoạn văn, cứ sau một lời kể khách quan mang tính chất thông báo là một lời nhận xét của tác giả. Như vậy, bằng hiện tượng đa nghĩa của giọng điệu, ta không chỉ thấy thái độ, tình cảm của nhân vật mà còn cảm nhận được trái tim nhà văn đang lên tiếng. Đằng sau lời văn lạnh lùng gần như sắc lạnh ấy lại là một tấm lòng xót thương sâu sắc cho nhân vật và cả sự căm phẫn xã hội vô nhân đạo đã đẻ ra hiện tượng Chí Phèo.

Tóm lại, đoạn văn được mở đầu bằng lời chửi của Chí Phèo không chỉ mang nét nghệ thuật dễ nhận thấy, nghệ thuật kết cấu, mà còn mang giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của ngòi bút thấm đẫm tinh thần Nam Cao. Càng đào sâu, càng nghiền ngẫm, người đọc sẽ tìm cho mình những suy nghĩ sâu sắc hơn về kiệt tác “Chí Phèo”.

“Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Chi tiết “tiếng chửi” của Chí Phèo đã góp phần làm nên thành công của nhà văn lớn Nam Cao. Nó đã khái quát lên một chân lý nghệ thuật: nghệ thuật chân chính không những tìm thấy cái bình thường trong sự phi thường mà còn phát hiện cái phi thường trong sự bình thường, thậm chí tầm thường. Chỉ có nhà văn lớn có khối óc và trái tim lớn mới làm được điều đó.

Tags
Show More

Trần Thanh Hoa

Trần Thanh Hoa - Hoa chào cả nhà. Hoa đam mê viết blog chuyên về sức khỏe và làm đẹp, chính vì thế hiện tại mình đang cộng tác với healthcaremagazine.com.vn tại các chuyên mục sức khỏe, làm đẹp. Hãy Kết Nối Với Thanh Hoa Tại: G+ - Facebook - Twitter - Linkedin - Pinterest - Tumblr - Youtube - Github - Flickr - Medium - Scoop - Minds - Gravatar - Soundcloud - Vimeo500pxwattpad - Reddit - Folkdslidesask  

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
Close
Close